TRANG NHẤT > ĐƯA NQ CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG
Cập nhật 31/10/2022 (GMT+7)

Một số vấn đề về bảo vệ môi trường theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Các quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường là cơ sở quan trọng để Nhà nước hoàn thiện pháp luật về môi trường. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng có nhiều nội dung mới về bảo vệ môi trường, từ đó đặt ra yêu cầu phải sớm thể chế các quan điểm này để triển khai vào thực tiễn.


1. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng coi trọng và nhấn mạnh đến công tác bảo vệ môi trường

Đảng ta có nhiều chủ trương về bảo vệ môi trường thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội XIII. Văn kiệnĐại hội XIII của Đảng thể hiện quan điểm coi trọng và nhấn mạnh công tác bảo vệ môi trường, đặt ra mục tiêu cụ thể về môi trườngđến năm 2030: “1. Tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%; 2. Tỷ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt trên 70%; 3. Giảm 9% lượng phát thải khí nhà kính; 4. 100% các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường; 5. Tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt 3 - 5% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia”[1]. “Đến năm 2030, cơ bản đạt các mục tiêu phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%; tỷ lệ chất thải nguy hại được tiêu hủy, xử lý đạt 98%, trong đó riêng tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động có nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%; tỷ lệ tái sử dụng, tái chế chất thải rắn sinh hoạt đạt trên 65%”[2].

Đây là những mục tiêu rất quan trọng để thực hiện phát triển bền vững, thúc đẩy bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.Để đạt được những mục tiêu đó, bên cạnh việc tiếp tục kế thừa các quan điểm được ghi nhận trong các văn kiện Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quan điểm về bảo vệ môi trường.

(1) Tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong quản lý tài nguyên và môi trường (kiểm soát ô nhiễm môi trường; khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu).

(2)Tiếp tục thúc đẩy phát triển bền vững đất nước. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, nhấn mạnh “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,môi trường”[3]

(3) Coi trọng bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành. Theo đó “lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái”[4]. Nâng cao chất lượng môi trường không khí, có biện pháp hạn chế ô nhiễm tiếng ồn, xử lý rác thải ở các đô thị, khu vực đông dân cư.

(4) Chủ độngthíchứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, bằng việc xây dựng hệ thống và cơ chếgiám sát biến đổi khí hậu;dự báo, cảnh báo thiên tai đến bảo vệ, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, ít chất thải, cácbon thấp, giảm nguồn phát thải khí nhà kính[5].

(5) Gắn vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường biển với bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thực hiện tốtchiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng,an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, môi trường biển; phòng, chống thiên tai,tìm kiếm cứu nạn, thíchứng với biến đổi khí hậu, nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu,ứng dụng khoa họcvàcông nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu số về biển, đảo, nâng cao năng lực giám sát môi trường biển, dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu vùng biển, ven biển.

(6) Các vấn đề sinh thái, môi trường, nguồn nước, lương thực, y tế là những vấn đề mang tầm an ninh quốc gia. Trong đó, nhấn mạnh cần xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước quốc gia. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông MêKông và sông Hồng.

(7) Thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và sản xuất thu hồi năng lượng từ chất thảigắn với hình thành chuỗi sản xuất tiếp nối, liên tục.

Những quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường là cơ sở quan trọng để hoàn thiệnhệ thống pháp luật hiện hành, trong đó có pháp luật môi trường trong thời gian tới.

2. Những vấn đề đặt ra trong thể chế hóa về bảo vệ môi trường theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

(1) Tiếp tục thể chế cụ thể, rõ ràng hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường[6]. Cần đổi mới xây dựng hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường theo hướng đề cao trách nhiệm của cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tuy nhiên, để tránh các cơ quan được trao quyền có thể lạm dụng quyền lực trong quản lý nhà nước về môi trường, thì việc hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó, hoàn thiện các quy định pháp luật thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện và xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật môi trường. Áp dụng nguyên tắc chi phí và lợi ích trong quy định về xác định mức xử phạt vi phạm về môi trường để bảo đảm các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật môi trường lựa chọn tuân thủ pháp luật.

(2) Tiếp tục thể chế hóa quan điểm bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành trong cơ chế hiến pháp và cơ chế pháp lý thông thường[7]. Đối với cơ chế hiến pháp cần cụ thể hóa khoản 2, Điều 119, Hiến pháp năm 2013 để hoàn thiện thiết chế bảo đảm quyền con người; với các cơ chế pháp lý thông thường cần phải bảo đảm pháp chế trong quá trình thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện các chủ thể có hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cũng như tổ chức, cá nhân và truyền thông đối với quá trình này. Nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Không khí sạch ở Việt Nam để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đang ô nhiễm trầm trọng hiện nay[8].

(3)Cần tiếp tục thể chế hóa quan điểm phát triển bền vững vào pháp luật môi trường và các văn bản pháp lý liên quan theo hướng không chỉ hoàn thiện riêng một lĩnh vực pháp luật nào mà cần tiếp cận hoàn thiện đồng bộ pháp luật về phát triển bền vững theo nội hàm mở rộng đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, với các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nghiên cứu tổng thể khung chính sách, pháp luật về phát triển bền vững, hệ thống hóa, xây dựng thống nhất, đồng bộ các quy định về vấn đề này trong Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Biển Việt Nam..., trong đó quy định về ưu tiên đầu tư ngành nghề công nghệ cao, thân thiện môi trường; loại bỏ dự án gây ô nhiễm môi trường.

(4) Hoàn thiện thể chế về mô hình phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Vấn đề này bước đầu được ghi nhận trong khoản 11, Điều 5, Điều 142, Luật Bảo vệ môi trường 2020. Do vậy, Chính phủ cần hướng dẫn cụ thể thực hiện điều luật này cũng như xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường.

(5) Cần tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. Bên cạnh trách nhiệm của Nhà nước, cần gắn với nâng cao vai trò của các cấp ủy đảng, các nhà khoa học, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân trong hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Tăng cường, đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và đẩy mạnh sử dụng các công cụ kinh tế, cũng như các yếu tố thị trường, xã hội trong bảo vệ môi trường.

(6) Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, cần nghiên cứu ban hành Luật Về ứng phó với biến đổi khí hậu để thể chế đầy đủ hơn các quan điểm của Đảng, các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và đồng bộ cho thích ứng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu và nước biển dâng cũng như thúc đẩy hợp tác quốc tế về lĩnh vực này.

(7) Xây dựng hoàn thiện thể chế pháp lý về an ninh môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã có quy định bước đầu về an ninh môi trường, tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lại bỏ thuật ngữ “an ninh môi trường”, do đó, cần sớm bổ sung vấn đề này vào hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường.

(8) Về an ninh nguồn nước, cần thể chế hóa quan điểm về an ninh nguồn nước trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng vào các quy định pháp luật.Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chưa có quy định về an ninh nguồn nước. Do vậy, vấn đề này cần được bổ sung quy định trong Luật Tài nguyên nước năm 2012 sửa đổi tới đây, theo hướng bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả tài nguyên nước./.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr 219 - 220, 276, 117, 114.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr219 - 220, 276, 117, 114.

[3]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr219 - 220, 276, 117, 114.

[4]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr219 - 220, 276, 117, 114.

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 154.

[6] Luật Bảo vệ môi trườngnăm 2020dành Chương XV quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tại Chương này đã có các quy định xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và môi trường, các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan, cũng như Ủyban nhân dân các cấp.

[7] Bùi Đức Hiển: “Mấy góp ý về quyền được sống trong môi trường trong lành trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Số 6 (302), 2013, tr12 -18.

[8] Bùi Đức Hiển:Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017.


Đức Ngọc (Tổng hợp)
Quay lại In bản tin này Gửi tin này cho bạn bè  
Họ tên
Email  
Nội dung
 
 Các tin khác
Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (28/09)
Trường THPT Mạc Đỉnh Chi huyện Chư Pah tổ chức kết nạp Đảng cho 3 học sinh (04/07)
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng đảng, xây dựng chính quyền (17/06)
Huyện ủy Ia Pa tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (29/04)
Huyện uỷ Ia Grai tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW (26/04)
Phú Thiện: Tổ chức Hội nghị sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (22/04)
Ghi nhận tại Hội thi Báo cáo viên giỏi (20/04)
Ia Pa tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII (16/04)
Gia Lai- Bế mạc Hội thi Báo cáo viên giỏi năm 2021 (06/04)
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Báo cáo viên Tỉnh ủy tháng 3/2021 (05/04)
Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (19/02)
Hội Chữ thập đỏ Gia Lai: Một năm vượt khó (09/02)
Tự hào 91 mùa Xuân đời ta có Đảng! (21/01)
Gia Lai tiếp tục quan tâm công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn (20/01)
Kết quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh Gia Lai năm 2020 (20/01)
 

Xem tin ngày:

 Truyền hình internet


 Tìm kiếm

Trong:

 Thông tin mới

2

Cuoc thi

Quản lý văn bản điều hành

Sách mô hình hay cách làm tốt

Gia Lai 90 nam hinh thanh va phat trien

Thong tin sinh hoat Chi bo

câu hỏi thi viết

Câu hỏi Cuộc thi

bien dao

Đặc san số tháng 1 năm 2015

Thông tin Tuyên giáo Gia Lai


 Thăm dò ý kiến

Theo bạn, nhu cầu quan trọng nhất của thanh niên hiện nay là gì?

  1. Học tập nâng cao trình độ.
  2. Việc làm.
  3. Vay vốn để sản xuất kinh doanh.
  4. Hoạt động vui chơi giải trí.
  5. Nhu cầu khác.

Theo bạn, thanh niên hiện nay có sẵn sàng tham gia các hoạt động tình nguyện tại vùng sâu, vùng xa không?

  1. Sẵn sàng tham gia
  2. Tham gia nhưng phải có chế độ, chính sách
  3. Không sẵn sàng tham gia


Số người truy cập 7481960
Số người Online 544

Trang Thông Tin Điện Tử Ban Tuyên giáo tỉnh Gia Lai

Cơ quan chủ quản: Ban Tuyên giáo tỉnh Gia Lai
Giấy phép số  147/GP-TTĐT Cục quản lý Phát thanh-Truyền hình-Bộ thông tin và truyền thông cấp
Địa chỉ: 02 Hai Bà Trưng - TP.Pleiku - Gia Lai
Điện thoại: (0269) 3717002 - Fax: (0269) 3871503
Email: thongtintuyengiaogl@gmail.com
Ghi rõ nguồn thongtintuyengiaogialai.vn khi sử dụng lại thông tin từ website này